Khi đứng trước sân triều của vùng cố đô Hoa Lư, nhiều người có lẽ sẽ ngạc nhiên vì nó nhỏ đến vậy. Một triều đại từng thống nhất giang sơn, những con người từng đứng giữa những biến động quyết định vận mệnh của nó, cuối cùng hiện ra trước mắt trong một không gian không thể đơn sơ hơn.

Trong Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh (đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình), khoảng sân đình ấy trở lại với một vóc dáng khác khi Hoa Lư hiện lên trên màn ảnh. Núi đá dựng sau những thân người nhỏ bé, mặt nước kéo không gian về phía xa, đường núi mở ra một thế giới có chiều sâu và sức nặng. Điện ảnh mở rộng Hoa Lư theo tầm vóc của huyền sử, đưa cái lớn lao mà thời gian bồi đắp quanh vùng đất này trở lại thành phong cảnh, chuyển động và con người.
Điều đáng ghi nhận đầu tiên ở Hộ linh tráng sĩ là: Về cơ bản thế giới được xây dựng trong phim khiến người ta tin. Nghệ sĩ quay phim hiểu được sức mạnh của Ninh Bình để có những góc máy nhạy bén với vẻ lớn lao của núi sông bên cạnh cái nhỏ bé của con người. Những đời người ngắn ngủi bước giữa một không gian đã có trước họ và sẽ còn lại sau họ. Nhờ thế, bộ phim tìm được chất sử thi mà không cần lời thoại giải thích. Có những cảnh rộng, chỉ một bóng người trước vách núi cũng đủ gợi lên sức nặng của lịch sử. Phục trang, mỹ thuật và công sức dựng cảnh làm thế giới ấy thêm đáng tin: Quần áo có chất và độ nặng, binh khí cho cảm giác thuộc về nhân vật đang sử dụng chúng, cảnh trí và đạo cụ khá tự nhiên. Những người làm nên phần hình hài của bộ phim đã tạo được một thế giới có dáng vẻ riêng. Phim huyền sử chỉ thật sự bắt đầu khi người xem thôi nghi ngờ những gì trước mắt và chấp nhận bước vào trong đó. Ở điểm này, Hộ linh tráng sĩ có một đóng góp quan trọng.

Dù vậy, trái với bối cảnh càng được xây dựng thuyết phục, các tuyến nhân vật thiếu chiều sâu càng hiện rõ. Người xem biết các tráng sĩ phải đi đâu, bảo vệ điều gì, hiểm nguy nào đang chờ họ; cũng sớm biết họ yêu ai, trung thành với ai, đau đớn vì điều gì. Phim có động cơ nhân vật khá rõ, nhưng đời sống của họ cần nhiều hơn thế. Một ánh mắt nán lại, một câu nói bỏ lửng, một nỗi niềm chưa gọi thành tên, một việc làm trái với lời vừa nói đều cần thời gian để bồi đắp. Nhân vật An Nhiên có khát vọng tự quyết số phận. Nhân vật Nguyên Phong có khát vọng tự do. Hữu tướng quân mang tổn thương vì mất vợ con trong trận lũ. Những tiền đề ấy có khả năng mở ra những con người phức tạp hơn những gì chúng ta thấy trên màn ảnh.
Tại sao một bộ phim dài vẫn thiếu thời gian cho nhân vật? Câu trả lời nằm trong tham vọng của chính tác phẩm. Hộ linh tráng sĩ muốn giữ quá nhiều thứ cùng lúc: Bí mật 99 quan tài, mưu đồ triều chính, hành trình phiêu lưu, võ thuật, tình yêu, tình thân, làng xóm, lòng trung thành, vận nước và sự hy sinh. Thời lượng khá dài, nhưng sự chú ý bị chia nhỏ. Mỗi quan hệ chỉ nhận được những khoảng thời gian ngắn và rời nhau, khó kết tinh thành một đời sống đủ đầy. Một ánh nhìn hôm trước cần còn dư âm trong cuộc gặp hôm sau; một mâu thuẫn cần được giữ đủ lâu để quyết định sau đó có giá; một tình cảm cần thành hình trước khi sự hy sinh của nó có thể làm đau người xem. Bộ phim thường phải rời một nhân vật để sang tuyến khác trước khi sự kết tinh ấy xảy ra. Vì thế, ta nhớ núi sông và đường đi của các nhân vật nhiều hơn chính những nhân vật ấy.
Hình ảnh 99 quan tài khiến điều này càng đáng tiếc. Một vị vua đã chết, người sống làm ra 99 quan tài để che giấu nơi an nghỉ thật của ông, đồng thời bảo vệ “linh thổ” của đất nước. Ý tưởng ấy đã rất giàu sức gợi: Quá khứ đến với chúng ta qua huyền thoại, lời truyền lại, những điều được ghi xuống, bị che giấu hoặc đã mất. Sự thật tồn tại giữa vô số dấu vết mà không phải dấu vết nào cũng dẫn đến sự thật. Từ một môtíp như thế, bộ phim hoàn toàn có thể tìm ra nguyên tắc kể chuyện của chính mình: Nhân vật giữ lại những điều không nói, hình ảnh che khuất một phần sự thật, im lặng để người xem tự tìm ý nghĩa.
Nhưng Hộ linh tráng sĩ chưa đi đến cùng với khả năng ấy. Chiếc quan tài giữ được bí mật lâu hơn con người: động cơ được giải thích, tình cảm được gọi tên, đạo lý được nói ra khá sớm.
Sự sốt ruột ấy liên quan trực tiếp đến cách bộ phim phân phối thời gian. Quá nhiều tuyến cùng phải tiến lên khiến mỗi cảnh phải làm việc rất nhanh: Đưa thông tin, xác nhận quan hệ, giải thích động cơ rồi chuyển sang biến cố tiếp theo. Ở một bộ phim mà người viết kịch bản đồng thời là đạo diễn, khả năng tạo khoảng cách với những gì mình đã viết càng quan trọng. Có câu trên giấy tưởng cần nhưng nhìn khuôn mặt diễn viên lại thành thừa; có cảnh chỉ vài dòng trong kịch bản nhưng lên phim cần ở lại lâu hơn.

Hộ linh tráng sĩ nhiều lần giữ nguyên sự rõ nghĩa của trang viết khi đưa lên màn ảnh. Lời thoại vì thế phải gánh thêm phần việc mà hình ảnh, thời gian và diễn xuất chưa kịp làm, còn người xem thường được biết khá sớm mình nên hiểu nhân vật theo hướng nào. Nhịp dựng mang cùng một áp lực. Có những đoạn thời gian chuyển rất nhanh giữa đêm, ngày rồi lại đêm; có những cảnh vừa hoàn thành việc cung cấp thông tin đã nhường chỗ cho tuyến khác. Mỗi lần cắt đi cũng lấy mất một phần thời gian mà cảm xúc cần để ở lại. Một ánh mắt chưa kịp thành nhớ nhung, một bất đồng chưa kịp thành vết thương, một mối quan hệ chưa kịp thành tình cảm thì câu chuyện đã đi tiếp. Ngay cả không gian cũng bị nén theo nhu cầu ấy. Ông thầy mo nói bảy nhóm sẽ đi về “bốn phương tám hướng” để đánh lạc hướng những kẻ truy tìm mộ vua. Nhưng rồi các nhóm liên tục gặp nhau, va vào nhau, xuất hiện quanh nhau, líu ríu như kiến bò trên chảo nóng. Một kế hoạch dựa vào sự phân tán cần tạo được cảm giác rộng và xa cách. Ở đây, nhu cầu liên tục tạo gặp gỡ và biến cố lại kéo các tuyến trở về gần nhau. Núi sông trên màn ảnh rất rộng, đường đi của câu chuyện lại chật.
Hệ quả rõ nhất xuất hiện khi các nhân vật bắt đầu chết. Một vài cái chết khiến không ít khán giả bối rối hơn là xúc động. Những nhóm như quan văn hay hoạn quan được đưa vào hành trình rồi mất đi khi ý nghĩa của sự hy sinh chưa được chuẩn bị đủ chắc. Họ gần như không có người đi theo, khiến ta phải hỏi họ đang đánh lạc hướng ai, bảo vệ ai, và cái chết ấy thay đổi điều gì trong kế hoạch. Diễn biến trên màn ảnh chưa tạo được câu trả lời đủ thuyết phục. Bộ phim cần những cái chết để hành trình mang vẻ bi tráng, để lòng trung thành có giá và vận nước mang máu của những người bảo vệ nó. Nhưng mất mát chỉ trở nên nặng khi ta đã sống cùng một người đủ lâu để hiểu cái chết lấy đi điều gì.

Hộ linh tráng sĩ đôi lúc dùng cường độ của biến cố để tạo cường độ cảm xúc. Người chết nhiều hơn, hiểm nguy lớn hơn, quy mô bi kịch tăng lên, còn cảm giác thương tiếc không tăng theo cùng một nhịp. Chuyện tình giữa Nguyên Phong và An Nhiên cũng chịu sức ép ấy. Sự gắn bó cần được bồi đắp qua những thay đổi nhỏ giữa hai con người; khi thời gian dành cho mối quan hệ bị chia cho quá nhiều tuyến khác, sự hy sinh đến trước khi tình cảm kịp có đủ ký ức. Ta hiểu rằng mình đang đứng trước một mất mát, nhưng cảm xúc vẫn đến chậm hơn ý nghĩa mà bộ phim muốn trao cho nó.
Các màn võ thuật lại thuộc về phần sống động nhất của phim. Khi lời thoại lùi xuống, cơ thể được quyền nói. Đòn đánh có lực, người ngã xuống có sức nặng, núi rừng tham gia trực tiếp vào giao đấu. Những người làm võ thuật, diễn viên, quay phim và cả đoàn phim đã tạo được cảm giác vật lý khá thuyết phục. Mỗi thân thể bước vào trận đánh đều thật hơn khi nó được chuyển động. Những đoạn ấy cũng hé lộ con đường bộ phim có thể đi xa hơn: một cú đánh tự mang cảm giác đau, một người lùi lại nửa bước đã cho ta thấy nỗi sợ, một bàn tay không muốn buông có thể giữ cả một mối quan hệ. Nghịch lý của Hộ linh tráng sĩ nằm ở chỗ: phim đã học được cách làm cho một trận chiến có trọng lượng, nhưng chưa phải lúc nào cũng làm cho người tham gia trận chiến ấy có đủ trọng lượng cảm xúc.

Lời thoại làm khoảng cách ấy rõ thêm. Nhân vật thường phải vừa kể, vừa giải thích, vừa bày tỏ tình cảm, vừa nói đạo lý. Có lúc An Nhiên nói khiến ta tin mình đang nghe một người thuộc về một thời xa xưa, ít lâu sau lại giận lẫy bằng tâm thế gần với một cô gái hôm nay. Nguyên Phong, thầy mo Kun hay Hữu tướng quân cũng có những lúc lời nói chưa hoàn toàn thuộc về cùng một thế giới. Phim lịch sử luôn phải tìm một thứ tiếng nói đủ gần để khán giả hôm nay hiểu được, đồng thời đủ xa để nhân vật vẫn sống trong thời đại của mình. Hộ linh tráng sĩ chưa luôn tìm được khoảng giữa ấy. Khi câu chữ đã giải thích khá đầy đủ nhân vật nghĩ gì và cảm thấy gì, diễn viên cũng còn ít chỗ để bộc lộ phần đời sống nằm ngoài lời nói.
Chất võ thuật nghịch ngợm, linh hoạt khiến người xem có lúc nhớ tới Túy quyền. Ở những đoạn khác, phim tìm đến vẻ uy nghi và bi tráng gần với một số phim cổ trang nổi tiếng. Những sắc thái ấy chưa hòa được thành một giọng riêng. Ảnh hưởng tự nó không làm bộ phim yếu đi. Điều đáng nói là Hộ linh tráng sĩ chưa tiêu hóa chúng đủ sâu để chất nghịch, chất dân gian và vẻ bi tráng có thể cùng thuộc về một giọng kể. Có những lúc khán giả nhận ra bóng dáng của những bộ phim khác trước khi nhận ra rõ hơn chính bộ phim mình đang xem.
Bộ phim muốn kể một câu chuyện lớn về vận nước, lòng trung thành và sự hy sinh. Câu chuyện ấy có chiều sâu khi lịch sử dồn được vào một đời người đủ sức lay động. Những biến cố đã có sẵn trong sử sách và huyền thoại; điện ảnh trao cho chúng thời gian, thân thể và ký ức. Hộ linh tráng sĩ đã đứng khá gần khả năng ấy. Sự phân tán của câu chuyện khiến tuyến truyện phải chạy. Cách dựng phim phải thúc. Lời thoại phải giải thích. Các mối quan hệ thiếu thời gian bồi đắp và những cái chết có quy mô lớn hơn dư âm mà chúng để lại. Những biểu hiện ấy cùng dẫn về một chỗ: Đạo diễn dành nhiều công sức để đưa câu chuyện tiến về phía trước hơn là dành đủ thời gian để nhân vật ở lại.

Hộ linh tráng sĩ cho thấy khả năng dựng một thế giới huyền sử Việt ở quy mô đáng kể đã tiến xa: Bối cảnh có sức nặng, phục trang và mỹ thuật tạo được niềm tin, võ thuật có lực, những nhân vật có thể thực sự sống trong không gian ấy. Chính thành tựu đó làm yêu cầu tiếp theo hiện ra rõ hơn. Những nhân vật sống giữa thế giới đã được dựng nên cần vượt khỏi sứ mệnh và đạo lý, cần có đủ thời gian để sợ hãi, ham muốn, do dự, yêu thương và mất mát, rồi mới có thể trở thành những đời sống khiến người xem nhớ, thương và tiếc.
Bước ra khỏi suất chiếu Hộ linh tráng sĩ, thứ đọng lại lâu nhất trong người xem có lẽ vẫn là núi non Ninh Bình, đẹp, cổ xưa, mang vẻ thờ ơ của thời gian trước những cuộc đời nhỏ bé từng đi qua dưới chân mình.
Thông tin tham khảo từ Vnexpress.net
S8SPORT.NET tổng hợp và biên tập nội dung dựa trên nguồn công khai nhằm mang đến thông tin đầy đủ, thuận tiện cho bạn đọc.
Xem bài viết gốc


Bình luận cộng đồng
0Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến về bài viết này.