‘Thể thao Việt Nam vẫn loay hoay giữa thứ hạng khu vực hay vươn tầm châu lục’
Phó Cục trưởng Cục thể dục thể thao kiêm Trưởng đoàn Nguyễn Hồng Minh thừa nhận những hạn chế của thể thao Việt Nam, và cho rằng phải quyết liệt thay đổi sau ASIAD 2026.

Sau 10 ngày tranh tài kể từ lễ khai mạc hôm 19/9, ông đánh giá thế nào về kết quả thi đấu của Đoàn thể thao Việt Nam?
Các VĐV, HLV đã bước vào giải đấu với tinh thần quyết tâm cao độ. HC vàng karate nội dung kata đồng đội nữ, HC bạc tán thủ wushu, cùng các huy chương ở các môn thế mạnh khác minh chứng cho ý chí kiên cường, nỗ lực vượt bậc vì màu cờ sắc áo. Có những nội dung tiệm cận rất gần huy chương, như nội dung nhảy chống nữ và ngựa tay quay nam kém HC đồng lần lượt 0,001 và 0,1 điểm.
Tuy nhiên, nhìn một cách trực diện, kết quả hiện tại vẫn cách khá xa mục tiêu đề ra là giành từ 4 HC vàng trở lên. Việt Nam có phần hụt hơi và rơi vào thế bám đuổi áp lực so với các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia hay Indonesia. Sự cạnh tranh tại châu lục ngày càng khốc liệt, ở sân chơi tiệm cận Olympic. Nhiều môn trọng điểm là điền kinh, bơi, rowing hay cử tạ gặp nhiều thử thách trước các đối thủ vượt trội và chưa thể tạo bứt phá. Đây là bài học về công tác dự báo sức mạnh đối thủ, điểm rơi phong độ cũng như chiến lược đầu tư dài hơi cho các môn Olympic. Khi các cường quốc Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bahrain đem đến những VĐV đẳng cấp Olympic thì khoảng cách về trình độ, khoa học công nghệ và y học thể thao của Việt Nam càng lộ rõ. Đây là bài học về định vị lại chiến lược đầu tư trọng điểm thay vì dàn trải ở nhiều môn.
Áp lực giải tỏa “cơn khát vàng” lúc này rất lớn. Tuy nhiên, Đoàn vẫn đang quyết tâm dồn toàn lực và tập trung cho các nội dung có khả năng tranh chấp HC vàng, là bắn súng, cầu mây, các cự ly chạy tiếp sức và esport để đạt mục tiêu đề ra.
Khả năng hoàn thành mục tiêu ấy không dễ. Một số môn kỳ vọng HC vàng như bắn súng, rowing đã không đạt chỉ tiêu. Theo ông, nguyên nhân còn nằm ở đâu?
Việc không đạt chỉ tiêu đến lúc này rõ ràng là kết quả không như kỳ vọng. Với tư cách những người lãnh đạo đoàn, chúng tôi nhận trách nhiệm với người hâm mộ khi chưa thể giúp các VĐV thi đấu bứt phá. Tuy nhiên, nhìn một cách sòng phẳng, kết quả này cũng phản ánh sự khốc liệt của ASIAD, với trình độ rất cao. Thất bại tại các nội dung kỳ vọng lần này là bài học thực tế rất lớn để chúng tôi tỉnh táo lại và nhìn rõ vị trí trên bản đồ thể thao châu Á. Chúng tôi sẽ nghiêm túc rà soát, thay đổi chiến lược đầu tư.
Á vận hội có những môn như bơi, bắn súng, cử tạ đã ngang ngửa giải vô địch thế giới hay Olympic. Các đối thủ lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ hay Hàn Quốc đem đến giải những VĐV xuất sắc có thông số kỹ thuật quá mạnh. Khi họ liên tục chạm đến các kỷ lục ngay từ vòng loại, áp lực lên các VĐV Việt Nam cực kỳ lớn. Ở môn rowing, thời tiết cực đoan buộc chủ nhà phải dồn lịch thi đấu từ 5 xuống 2 ngày. VĐV phải đua liên tục cường độ cao mà không có lực lượng dự phòng đủ dày dẫn đến bào mòn thể lực, phá vỡ tính toán chiến thuật và lỡ hẹn những vị trí cao nhất.
Về mặt chủ quan, chúng tôi chưa làm tốt giải tỏa áp lực cho các VĐV trọng điểm. Trường hợp sảy chân ở vòng loại của những nhà vô địch hay niềm hy vọng hàng đầu cho thấy tâm lý thi đấu chưa vững vàng. Sự căng cứng hiện rõ trong từng loạt bắn, nhịp chèo ở những thời khắc quyết định. Cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, các điều kiện phục hồi, dinh dưỡng và ứng dụng khoa học công nghệ của Việt Nam còn khoảng cách xa với nhóm đầu. Sự chuẩn bị phần lớn dựa vào nỗ lực tự thân của HLV và VĐV mà chưa có hỗ trợ mang tính khoa học kỹ thuật toàn diện.

Những nội dung nào khiến ông nuối tiếc nhất?
Nội dung khiến tôi trăn trở nhất là 10m súng ngắn hơi hỗn hợp nam nữ của Trịnh Thu Vinh và Phạm Quang Huy, cùng việc đội tuyển bóng đá nữ dừng bước tại tứ kết. Đẳng cấp của Vinh và Huy đã được thể hiện ở châu Á và thế giới. Nhưng áp lực quá lớn khiến tâm lý căng thẳng dẫn đến không đạt điểm số tốt ở loạt cuối, rồi lỡ vé vào chung kết. Trong bắn súng, chỉ một tích tắc mất tập trung hay nhịp thở không đều là cục diện đã thay đổi. Nhìn các VĐV rời trường bắn với gương mặt thất thần, chúng tôi thương và tiếc vì biết rõ năng lực của họ có thể làm tốt hơn thế.
Bóng đá nữ thì giằng co 120 phút với đối thủ rất mạnh là Trung Quốc, và chỉ thua một bàn ở hiệp phụ. Thất bại về mặt tỷ số phản ánh thực tế chuyên môn, nhưng các cầu thủ cũng ở rất gần khoảnh khắc làm nên lịch sử.
Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu SEA Games, nhưng ra châu lục lại thua kém Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore hay Philippines. Dường như chưa có lời giải hiệu quả cho vấn đề này, dù đã được chỉ ra từ lâu?
Đây là trăn trở lớn nhất của những người làm công tác quản lý và huấn luyện thể thao nhiều năm qua. Vấn đề đã được nhìn ra, nhưng để tìm lời giải thật sự hiệu quả và biến thành kết quả tại ASIAD vẫn là bài toàn rất khó. Thực trạng này bắt nguồn từ những thực tế rất rõ ràng, trước hết là khác biệt về tư duy và mục tiêu đầu tư. Tại SEA Games, Việt Nam đạt thành tích cao nhờ lực lượng VĐV đồng đều ở nhiều môn, nhưng chưa thể dứt khoát trong việc lựa chọn dẫn đến đầu tư thiếu chiều sâu. Việt Nam vẫn loay hoay giữa giữ vững thứ hạng khu vực hay vươn tầm châu lục. Điều này làm phân tán nguồn lực dẫn đến tình trạng nhiều nội dung Việt Nam rơi vào nhóm tiệm cận nhưng thiếu sức bật để giành vị trí số một.
Các nước đã đi trước một bước khi chấp nhận không quá chú trọng vào thứ hạng khu vực, để dồn lực vào các môn Olympic cơ bản như bơi, điền kinh, thể dục dụng cụ, bắn súng hay cử tạ. Họ có thể không đứng đầu một vài kỳ SEA Games, nhưng ra tầm châu Á, sự đầu tư chuyên sâu mang lại những tấm HC vàng rất thuyết phục. Các nước này cũng có chiến lược rõ ràng trong tận dụng ưu thế những môn thể thao có tính chất đặc trưng quốc gia như cầu mây, cầu lông. Khi ASIAD đòi hỏi sự tinh nhuệ ở những nội dung đỉnh cao, sự tập trung ấy lập tức phát huy tác dụng.
Thứ hai là khoảng cách về y học thể thao và điều kiện phục hồi. Sân chơi châu lục hiện nay không còn là nơi so kè bằng ý chí hay nỗ lực tự thân của HLV, VĐV mà là cuộc chiến khoa học. Các quốc gia mạnh trong khu vực đã áp dụng chế độ dinh dưỡng chuyên sâu, có đội ngũ chuyên gia trình độ cao đi cùng và sử dụng trang thiết bị hiện đại phục vụ nâng cao thành tích VĐV. Trong khi đó, cơ sở vật chất, chế độ chăm sóc và phục hồi sau tập luyện của chúng ta còn rất khiêm tốn. Khi bước vào mật độ tranh tài khốc liệt như ASIAD, VĐV Việt Nam rất dễ bị quá tải dẫn đến hụt hơi ở loạt đấu quyết định.

Tính thực chiến và vận động nguồn lực xã hội hóa cũng là một điểm cần lưu tâm?
Nhiều VĐV xuất sắc của Thái Lan, Singapore, Philippines được gửi đi tập huấn dài hạn tại Mỹ, châu Âu và liên tục thi đấu trong hệ thống giải vô địch thế giới. Họ đã quen với áp lực lớn nên tâm lý rất vững vàng khi vào chung kết, không bị choáng ngợp trước đối thủ mạnh. Để đi cọ xát, những VĐV xuất sắc nhất có sự đồng hành rất lớn từ các nguồn lực xã hội. VĐV Việt nam lại vẫn tập trung trong nước, số chuyến tập huấn nước ngoài còn ít nên kinh nghiệm trận mạc ở các thời khắc quyết định chưa thể dày dạn bằng.
Chúng tôi không né tránh những thực tế này. Những hạn chế tại ASIAD 2026 là bài học để dũng cảm thay đổi. Muốn vươn tầm châu lục, thể thao Việt Nam phải chấp nhận bớt đi áp lực thành tích ở sân chơi khu vực để kiên nhẫn đi theo một lộ trình khoa học, dồn toàn bộ nguồn lực chăm chút những cá nhân có tố chất và khả năng đạt thành tích ở châu lục. Nếu không thay đổi tận gốc phương thức chuẩn bị, chúng ta sẽ mãi loay hoay trước các đối thủ lớn. Thể thao Việt Nam hy vọng thay đổi vị thế chỉ khi dám đầu tư dài hơi và chấp nhận giai đoạn chuyển giao thử thách.
Với môn thế mạnh thường xuyên giành huy chương ASIAD, Thái Lan có cầu mây, taekwondo; Singapore có bơi, Indonesia có cầu lông, Malaysia có squash hay thuyền buồm. Việt Nam không có môn nào giành huy chương liên tiếp ba kỳ, gần nhất có karate hai lần. Tại sao Việt Nam chưa xây dựng được môn thế mạnh?
Như tôi đã đề cập, áp lực thành tích ngắn hạn làm phân tán nguồn lực, về cả tài chính và con người. Khi kinh phí chia cho nhiều môn, không còn nguồn lực để thuê chuyên gia hàng đầu, mua sắm trang thiết bị công nghệ cao hay xây dựng chế độ dinh dưỡng chuyên biệt cho vài môn Olympic chủ lực.
Việc không duy trì thành tích ổn định còn phản ánh những hạn chế rõ ràng trong chiến lược. Thái Lan, Malaysia chọn môn thế mạnh dựa trên lộ trình nhiều thập kỷ và dồn mọi nguồn lực để giữ vị thế. Việt Nam chưa nhất quán về khái niệm “môn mũi nhọn”. Môn thế mạnh đôi khi thay đổi theo từng chu kỳ SEA Games hoặc phụ thuộc sự xuất sắc mang tính nhất thời của một vài cá nhân. Khi thế hệ vàng sang bên kia sườn dốc sự nghiệp mà lực lượng kế cận chưa kịp chín, môn đó lập tức rơi vào khoảng trống thành tích, rồi lại loay hoay tìm kiếm hy vọng ở môn khác. Để duy trì thành tích 3 kỳ ASIAD liên tiếp, một bộ môn phải có ít nhất hai đến ba thế hệ kế thừa một cách nhịp nhàng. Nhưng hệ thống đào tạo trẻ còn nhiều bất cập và sự kết nối giữa địa phương với ĐTQG chưa đồng bộ. Khi một VĐV chủ lực chấn thương hoặc sa sút, việc tìm phương án thay thế có trình độ tương đương rất khó.
Thể thao Việt Nam đã xác định nút thắt. Cởi bỏ thế nào thưa ông?
Chúng tôi đã nói nhiều năm về đầu tư trọng điểm nhưng đến nay chưa thể thực hiện triệt để. Tôi cho rằng không nằm ở tố chất hay tinh thần vượt khó của VĐV mà ở tư duy vận hành và cách đầu tư, lấy khoa học thể thao làm đòn bẩy và chấp nhận đi con đường dài hơi, bài bản hơn. Nhiều năm qua, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu giữ vững vị trí ở SEA Games và vươn tầm ASIAD hay Olympic. Việc này hạn chế khả năng đầu tư chuyên sâu. Không thể có một nhà vô địch châu Á nếu chi phí huấn luyện, dinh dưỡng, thuê chuyên gia ngoại ở mức trung bình. Nút thắt này chỉ có thể cởi bỏ bằng cách giảm áp lực huy chương ở giải khu vực, chấp nhận giai đoạn chuyển giao thành tích chưa tốt để dồn nguồn lực cho một nhóm nhỏ VĐV đặc biệt xuất sắc ở các môn Olympic trọng điểm.
Lỗ hổng về y học thể thao cũng cần khỏa lấp. Việc này hoàn toàn có thể làm tốt hơn nhưng chưa được đầu tư đúng tầm. Đối thủ vượt trội hơn không hẳn vì tập nặng hơn mà có hệ thống y học giúp phục hồi cơ bắp và tái tạo năng lượng nhanh hơn. VĐV Việt Nam chủ yếu tập luyện bằng ý chí. Họ thiếu công nghệ đo lường chỉ số sinh hóa, chuyên gia dinh dưỡng chuyên sâu cho từng môn và liệu pháp giải tỏa tâm lý. Một cơ thể chưa kịp hồi phục và tâm lý căng cứng dẫn đến sảy chân ở thời khắc quyết định. Cuối cùng, đào tạo trẻ cần đồng bộ và địa phương phải là chân đế vững chắc. Nhưng cơ chế phối hợp và chuyển giao giữa các tỉnh, thành với ĐTQG chưa thông suốt. Nhiều tài năng chớm nở ở địa phương nhưng khi lên tuyển lại bị chững lại do giáo án huấn luyện không nhất quán, hoặc tuyến dưới không thi đấu cọ xát quốc tế thường xuyên.
Nghị định 349/2025 NĐ-CP đã tăng tiền thưởng huy chương Olympic gấp 10 lần (HC vàng là 3,5 tỷ đồng), ASIAD là gấp đôi (HC vàng 280 triệu đồng), SEA Games gấp 1,2 (HC vàng 54 triệu đồng), hay VĐV, HLV quốc gia đều tăng lương gấp đôi lần lượt là 550.000 và 1,1 triệu đồng mỗi ngày. Điều này tác động cụ thể thế nào đến kết quả của VĐV?
Đó là một cú hích lớn và động viên rất kịp thời, về tiền công, tiền lương, thưởng cũng như chế độ dinh dưỡng giúp giải quyết phần nào khó khăn vốn có. Trong quá trình triển khai, tôi không thấy khó khăn, vướng mắc lớn. Tác động lớn nhất là giải tỏa được áp lực tư tưởng cho VĐV. Họ không còn phải lo toan quá nhiều về gánh nặng kinh tế gia đình, từ đó toàn tâm toàn ý tập trung vào giáo án huấn luyện nặng. Tại ASIAD 2026, nền tảng thể lực và thông số chuyên môn của nhiều VĐV cải thiện rõ rệt, với nhiều kỷ lục cá nhân.
Việc chuyển hóa từ chế độ đãi ngộ tốt đến HC vàng châu lục vẫn cần lộ trình dài hơi. Nhưng tín hiệu tích cực bước đầu cho thấy chính sách đi đúng hướng, lấy VĐV làm trung tâm. Điều này tạo cơ sở vững chắc để xây dựng lực lượng có chiều sâu và bản lĩnh hơn trong tương lai.

Thông tin tham khảo từ Vnexpress.net
S8SPORT.NET tổng hợp và biên tập nội dung dựa trên nguồn công khai nhằm mang đến thông tin đầy đủ, thuận tiện cho bạn đọc.
Xem bài viết gốc


NGƯỜI CAT
Nghe ngay
NGƯỜI SẮT
Nghe ngay
Bình luận cộng đồng
0Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến về bài viết này.