TIN NÓNG
SPORTLIGHT

‘Ván cược’ vì những đứa trẻ mồ côi

‘Ván cược’ vì những đứa trẻ mồ côi

Khi ông Trương Gia Bình nêu ý tưởng mở ngôi trường nuôi dạy trẻ mồ côi do Covid, nhiều người nghi ngờ và phản đối. Họ tin rằng để các em bên người thân mới là cách tốt nhất để “chữa lành” nỗi đau Covid để lại.

“Em muốn làm một cái gì đấy”, Chủ tịch FPT Trương Gia Bình nói với chị gái Trương Thị Thanh Thanh qua điện thoại vào một buổi sáng giữa tháng 9/2021, sau khi nghe tin số trẻ mồ côi do Covid lên đến hàng nghìn. “Chúng ta có thể thành lập một cái trường”, ông đề nghị.

“Suy nghĩ đầu tiên của tôi là hoài nghi”, bà Thanh kể lại. “Một nỗi đau đã quá lớn. Bây giờ tụ tập 1.000 nỗi đau lại một chỗ, tôi sợ nó lây lan, không thằng nào an ủi được thằng nào”.

Là Giám đốc Trách nhiệm Xã hội (CSR) của FPT, ở tuổi 74, bà Thanh đã dành hai phần ba cuộc đời làm thiện nguyện và hoạt động xã hội. Bà lo đây không phải cách tốt nhất để giúp những đứa trẻ.

Khi ý tưởng xây trường nuôi dạy 1.000 em nhỏ mồ côi do Covid-19 được đưa ra thảo luận trong Hội đồng Quản trị, có ý kiến cho rằng “bài toán này quá khó với FPT”, thay vào đó có thể giúp đỡ bằng vật chất. Tuy FPT có hệ sinh thái giáo dục từ tiểu học đến đại học, nhưng nuôi dạy trẻ mồ côi đến năm 18 tuổi là một dự án thuộc dạng bảo trợ xã hội – mảng tập đoàn không có kinh nghiệm, cũng chưa từng theo đuổi.

Ký ức tuổi thơ lớn lên trong trường nội trú thời chiến tranh khiến ông Bình có niềm tin khác. Quá trình học tập và rèn luyện cùng những người bạn chung hoàn cảnh sẽ giúp trẻ thân nhau, an ủi nhau, nâng đỡ nhau vượt qua khó khăn, biến đau thương thành sức mạnh.

“Nếu chỉ ủng hộ tiền, tụi nhỏ ăn uống được vài ba bữa, chi bằng mở trường, trao cho các con cơm ăn áo mặc, tình thương, và cơ hội được học, được phát triển”, ông Bình thuyết phục HĐQT.

Chỉ sau 24 giờ thảo luận và thống nhất với nội bộ tập đoàn, ngày 16/9/2021, ông Trương Gia Bình tuyên bố FPT xây trường nuôi dạy 1.000 em nhỏ mồ côi do Covid-19 tại Đà Nẵng, cam kết đào tạo 20 năm, chi phí mỗi năm 80 tỷ đồng, với mô hình thiếu sinh quân.

Theo bà Thanh, ở FPT, một dự án được quyết định nhanh chóng như vậy là trường hợp “rất ngoại lệ”.

Ý tưởng này ngay lập tức thu hút sự chú ý từ dư luận, mở ra cuộc thảo luận về mô hình nuôi dạy trẻ mồ côi. Trên các bài báo, diễn đàn, nhiều chuyên gia phản đối việc gom trẻ mồ côi do Covid vào một ngôi trường riêng biệt.

Đại diện Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) dẫn chứng nhiều nước phát triển đã bỏ hoàn toàn mô hình chăm sóc tập trung, cho rằng trẻ em lớn lên trong môi trường này dễ bị chậm phát triển não bộ, tự ti, thiếu kỹ năng xã hội và khó hòa nhập…

Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội khi đó nêu quan điểm tại diễn đàn Quốc hội: “Không khuyến khích doanh nghiệp lập cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi do Covid-19”.

Giữa làn sóng phản đối, dự án vẫn được triển khai.

“Lúc đó vẫn còn mơ hồ chưa biết dự án sẽ làm gì, chỉ thấy đó là việc đúng đắn thì làm thôi”, bà Trương Thị Thanh Thanh nói.

Nhiệm vụ đầu tiên là chiêu mộ Giám đốc cho ngôi trường nội trú này.

Khi ứng tuyển làm Giám đốc dự án, ông Hoàng Quốc Quyền (44 tuổi), từng giữ nhiều vị trí quản lý cấp cao trong các tập đoàn lớn gồm Viettel, Vinfast, Tiki, tuy nhiên, chưa từng làm giáo dục. Lợi thế lớn nhất của ông khi đó có lẽ là từng tốt nghiệp ngành Tâm lý học, có nhiều năm quân ngũ, và là bố của ba đứa con.

“Đó là một cuộc tuyển dụng kỳ lạ”, ông Quyền kể. Gần 20 năm trên thương trường, ông chưa từng ứng tuyển xin việc, thậm chí không có CV. Thế mà lần này, ông phải trải qua 7 vòng phỏng vấn trong một tháng. “Đến lần phỏng vấn thứ 5 tôi đã định bỏ vì thấy nhiêu khê, phải gặp hết người này đến người kia”.

Sự hiếu kỳ về dự án giữ chân ông đến buổi phỏng vấn thứ 8 với Chủ tịch Trương Gia Bình và các lãnh đạo cao nhất của FPT.

“Nếu một ngày, một học sinh nữ trong trường thông báo có bầu, em ứng xử thế nào?”, ông Trương Gia Bình đặt câu hỏi tình huống.

“Câu hỏi đó đã chạm đến tôi”, ông Quyền nói. “Đó thực sự là tấm lòng của một ông bố, đã nghĩ đến tận cùng những gì tụi nhỏ có thể phải đối diện trong hành trình lớn lên”.

Ông nhận ra người sáng lập muốn làm dự án này một cách nghiêm túc, không phải theo cảm hứng.

Nhưng những hoài nghi về ngôi trường chưa dừng lại ở đó. Ánh nhìn ngờ vực bắt đầu xuất hiện từ chính nhóm đối tượng thụ hưởng – các gia đình có trẻ mồ côi.

“Ngôi trường lừa đảo”

Khi đoàn khách mặc đồng phục xanh dương đến thăm và ngỏ ý đưa hai đứa trẻ từ Đồng Tháp ra Đà Nẵng học miễn phí, bao ăn ở đến 18 tuổi, hỗ trợ lên cả đại học, cả gia đình Thanh Trọng đều nghĩ đây là lừa đảo.

Đó là một chiều hè năm 2022, Trọng khi ấy 15 tuổi, đang chơi đá banh với đám bạn ngoài bãi đất gần nhà thì nghe tiếng ông nội gọi từ đằng xa. Cậu bỏ dở, chạy vội về. Nhà lại có khách. Gần một năm từ ngày mẹ mất do Covid-19, nhà Trọng thường xuyên có người lạ đến thăm, trao quà, ít ai trở lại.

Ngồi đối diện ông bà là hai vị khách đi cùng cán bộ tỉnh đoàn. Họ ân cần hỏi thăm việc học của Trọng bằng chất giọng miền Trung đặc sệt, rồi giới thiệu về một ngôi trường mới mở năm ngoái chỉ để nuôi dạy trẻ mồ côi vì Covid-19 ở Đà Nẵng. Gia đình không cần đóng bất kỳ khoản nào.

“Nghe giống lừa đảo”, Trọng kể. Khắp miền Tây khi ấy rộ lên tin tức về các vụ mua bán người qua Campuchia làm việc trong casino.

Cả nhà chưa ai tin, nhưng ông bà nội của Trọng cũng rất đắn đo. Họ đem nỗi hoài nghi về ngôi trường đi hỏi người thân từ Sài Gòn đến Quảng Nam. Ai cũng bảo dự án có thật, của tập đoàn lớn, báo đài đưa tin nhiều, “cho Trọng đi học đi, tương lai lắm”.

Thế nhưng cả Đồng Tháp lúc bấy giờ chưa có gia đình nào thật sự gửi con đến ngôi trường kỳ lạ, cách hơn 1.000 km. Ông bà không dám mạo hiểm.

Gia đình Thanh Trọng không phải trường hợp duy nhất nghi ngờ lời mời tuyển sinh này.

Khi nhận mở trường Hy Vọng (HOPE School) năm 2021, ông Hoàng Quốc Quyền không nghĩ mình sẽ nhận nhiều ánh nhìn ngờ vực đến thế.

Lúc bắt đầu, ông đã nghĩ đây là một dự án có sứ mệnh nhân văn, nhóm thụ hưởng rõ ràng – 4.400 trẻ mồ côi vì Covid-19 trên khắp cả nước, và được bảo trợ nguồn lực bởi một tập đoàn lớn. Nhiều năm lăn lộn trên thương trường, ông tự tin trong quản lý và làm việc với con người.

Hành trình thực hiện dự án của ông Quyền được khởi động với “ba không” – không trường, không giáo viên, và không giấy phép.

Muốn có trường, đầu tiên phải có học sinh. Ông quyết định “tuyển sinh ngược” – đến từng nhà giới thiệu về trường, thay vì chờ nhận hồ sơ. Khi lệnh giãn cách xã hội được nới lỏng tháng 11/2021, ông bắt chuyến bay từ Đà Nẵng vào TP HCM. Hành trang chỉ có bài báo đưa tin FPT mở trường nuôi trẻ em mồ côi do Covid-19.

Cầm trên tay danh sách trẻ mồ côi, ông rong ruổi khắp các tỉnh thành, gõ cửa từng nhà, thuyết phục gia đình cho con em ra Đà Nẵng học. Suốt nhiều tháng đầu, ông đối diện với những ánh mắt nghi ngờ.

“Lừa đảo”, “Làm gì có chuyện tốt thế”, “Chú biết khó khăn thế thì chú cho tôi tiền”… Ông Quyền nghe lời từ chối mỗi ngày, ở mỗi gia đình ông ghé qua. Ông hiểu ra lý do khi nhìn lên bàn thờ, thấy những tấm biển in số tiền từ thiện của các tổ chức, cá nhân dành cho những đứa trẻ đã mất cha hoặc mẹ.

“Quả thực lúc đó tôi mới phát hiện mình đang đi làm một thứ quá khác biệt, thách thức niềm tin của xã hội về sự tử tế, trong tay lại chẳng có gì chứng minh ngoài một bài báo. Ai dám tin?”, ông nói. “Tôi nghĩ mình cũng chơi liều”.

Sau gần một tháng bám trụ ở TP HCM nhưng đều nhận những cái lắc đầu, ông cảm thấy lung lay. Ông bắt taxi ra sân bay về Đà Nẵng, nghĩ sẵn lời báo cáo với Chủ tịch Trương Gia Bình rằng đây là một nhiệm vụ bất khả thi.

“Tôi đi mấy trăm nhà xong nghĩ: vụ này bể rồi, vì họ có tin đâu”, ông Quyền kể. “Không có học sinh thì làm gì có trường”.

Đúng lúc này, ông nhận được một cuộc điện thoại. Một cô bé hỏi về trường. Chiếc taxi sau đó đổi hướng, đưa ông đến ngôi nhà trên đường Đoàn Văn Bơ (quận 4 cũ). Sau một hồi nói chuyện, em đồng ý nhập học. Đó là “học trò 001”, tên Thuý Anh.

“Em là điềm lành của dự án này”, ông nói.

Sau cái gật đầu đầu tiên, những ngày tiếp theo, dự án nhận thêm nhiều lời đồng ý từ các gia đình khác.

Ngày 6/2/2022, trường Hy Vọng đón 32 học sinh từ 9 tỉnh, thành phố về học tập và sinh sống tại trụ sở mượn tạm của F-City tại Đà Nẵng.

Sau những thách thức ban đầu, ông Quyền và đội ngũ đối mặt với khó khăn tiếp

Dư âm của mất mát

Mùa hè 2021 lẽ ra là mùa hè tuyệt đẹp của hai anh em Thanh Trọng – Thanh Trúc. Mẹ đưa chúng lên Bình Dương chơi ngay khi kỳ nghỉ hè vừa bắt đầu. Từ ngày ba mất, hai đứa trẻ lúc nào cũng “đói hơi” mẹ.

Phòng trọ của mẹ tuy nhỏ nhưng ấm cúng, đủ kê một chiếc giường cho mẹ và Trúc, còn Trọng ở trên gác xép. Sau mấy tháng trời không được gần mẹ, Trúc thèm được ôm dáng người tròn tròn, tỉ tê đủ thứ chuyện mỗi ngày.

Gần cuối tháng 8, khu trọ bùng dịch, mẹ và Trúc bị nhiễm bệnh, phải đi cách ly. Chỉ còn Trọng ở lại phòng trọ. Do có bệnh nền về tim, mẹ chuyển nặng sau một tuần, phải nhập viện. Ba mẹ con mỗi người một nơi.

Một tuần sau, Trọng nghe hàng xóm nói mẹ qua đời. Cậu không tin. Nhưng hai tiếng sau đó, người ta đưa mẹ về nhà trọ, chỉ còn một hũ tro. Trọng không khóc được.

“Thế giới của em gần như sụp đổ. Em không còn ba, nguồn tinh thần của mình chỉ còn mẹ thôi, nhưng mẹ cũng không còn nữa”, Trọng nói.

Khoảng 4 tiếng sau, Trúc cũng từ khu cách ly trở về. Nhìn thấy hũ tro, con bé khóc oà lên: “Cái này là cái gì vậy anh ba, sao anh ba nói xạo, nói dóc em là mẹ về rồi, mẹ chờ em…”

Kể từ đó, hai anh em mồ côi – cả cha lẫn mẹ.

Hai đứa trẻ mắc kẹt ở nơi đất khách quê người thêm một tháng. Đến lượt Trúc lăn ra ốm, Trọng vừa chăm em vừa lo sợ.

“Sinh lão bệnh tử thì em không sợ, em sợ mất người thân. Mất ba mất mẹ rồi, em không muốn mất thêm ai nữa”, Trọng nói.

Từ sau khi mẹ qua đời cùng chuỗi ngày phải cách ly kéo dài, Trọng dần trầm lặng hơn, đầu óc và tâm trạng trống rỗng. Em không muốn trò chuyện, không nghe thấy ai nói gì, luôn cảm thấy có một bức tường chắn ngang giữa mình và người đối diện.

Mãi sau này khi có kiến thức về y khoa, Trọng mới nhận diện được những dấu hiệu hồi đó là trầm cảm nhẹ. Tình trạng này kéo dài một năm từ khi mẹ em mất. Cho đến một ngày, chuyến thăm của “hai người đàn ông áo xanh dương” đưa em đến một vùng đất khác.

“Con nghĩ sao, nhắm đi được không?”, ông nội hỏi Trọng.

Ông bà mất ngủ mấy đêm để suy nghĩ, cân nhắc giữa hai lựa chọn: cho cháu đi hay ở. Hai đứa nhỏ chưa kịp ổn định tâm lý, giờ phải sống xa nhà cả nghìn cây số. Ông bà không đành lòng. Nhưng ở nhà thì không có tương lai. Nguồn thu nhập duy nhất đến từ lưới đánh cá của ông nội, hôm được hôm không, chẳng biết trụ được đến khi nào.

“Con thống nhất là đi”, Trọng đáp. Chính Trọng trở thành người thuyết phục ông bà cho đi học. “Bây giờ sống ở quê chưa chắc đã có tương lai, con muốn ra Đà Nẵng con học thử, không ổn thì con về”.

Trọng rất thích học. Từ bé, em đã nghĩ sẽ chọn học sư phạm, hoặc quân đội cho đỡ tốn tiền học phí. Sau khi cha mẹ qua đời, Trọng lại càng giới hạn ước mơ của mình trong những lựa chọn có thể đỡ gánh nặng cho ông bà.

Khi quyết định theo học ở “ngôi trường kỳ lạ”, cậu bé lớp 9 khi ấy đặt cược tương lai, mong cơ hội mở rộng những lựa chọn sau này. Nếu thấy ổn, Trọng sẽ đưa cả em gái Thanh Trúc – khi đó mới lớp 5 – theo học cùng.

Suốt hai tháng đầu vào HOPE, Trọng giữ trạng thái không tiếp xúc hay nói chuyện với ai. Ai hỏi gì, thằng bé cũng chỉ gật đầu. Cậu bé miền Tây chưa quen với đồ ăn, khí hậu, giọng điệu, cách nói của người bản xứ. Sự xa lạ khiến Trọng khép mình lại.

“Trong đầu lúc nào cũng như có một căn phòng, một khoảng trống”, Trọng hồi tưởng.

Hầu hết những đứa trẻ trải qua biến cố mất mẹ cha đều từng trải qua trạng thái tinh thần như Trọng. Năm 2022, trường Hy Vọng lần đầu tổ chức khám tâm lý cho gần 300 học sinh, các bác sĩ, chuyên gia nhận định 76% có vấn đề tinh thần.

Khi ngôi trường đón những lứa trẻ đầu tiên, ông Quyền và các thầy cô không phải đối mặt với những bài toán lớn, mà là những điều nhỏ nhặt, li ti của cuộc sống, của ăn, ở, nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ ba.

Có đứa trẻ lớp hai, bỏ ăn, thầy cô hỏi thèm gì, nó nói chỉ thèm món cơm rang nước mắm của ngoại. Thầy cô rang cho ăn, nó vẫn lắc đầu bảo “không phải mùi của ngoại”. Có bạn đang chơi vui thì òa khóc, không nói vì sao. Mãi mấy ngày sau mới giải thích “vì có cô đó đi qua giống mẹ con quá”.

“Nhiều bạn nhỏ thấy mình lạc lõng giữa thế giới này. Rất nhớ ngôi nhà của mình, nhưng giờ về không còn mẹ, không còn bố. Cả cuộc đời đi ở trọ, không biết mình thuộc về đâu”, ông Quyền trầm giọng nói.

Khi nhận nhiệm vụ từ Chủ tịch Trương Gia Bình, ông Quyền được gợi mở xây dựng trường theo mô hình thiếu sinh quân – nuôi dưỡng và giáo dục toàn diện về văn hóa, thể chất, và kỷ luật quân đội. Nhưng đến lúc thật sự bắt tay nuôi dạy trẻ, ông nhận ra mô hình trường nội trú truyền thống là chưa đủ.

Ông muốn xây dựng ngôi trường này trở thành nơi chốn thuộc về của mỗi đứa trẻ. Mục tiêu đó khó hơn rất nhiều so với hình dung ban đầu.

Thời làm Tổng giám đốc Viettel tại Peru, ông dẫn dắt đội ngũ hơn 1.600 nhân viên – cả Việt Nam và nước ngoài – gây dựng thành công thị trường viễn thông thương hiệu Việt tại Nam Mỹ. Thế nhưng, nuôi dạy trẻ là chuyện hoàn toàn khác. Người lớn tuân thủ dựa trên lợi ích, còn con trẻ chỉ nghe lời nếu thấy tình thương.

“Với tụi nhỏ, kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương. Mỗi đứa trẻ cần sự đồng hành không chỉ bằng lời nói, hành động, mà hơn cả là thời gian”, ông chia sẻ.

Từng bước, ông cùng các thầy cô thiết kế và tinh chỉnh một “liệu trình chữa lành” riêng cho học trò HOPE dựa trên triết lý “back to basic” – dạy trẻ cách tự lập từ những điều cơ bản nhất.

Ai chiến thắng không hề chiến bại

Ai nên khôn không khốn một lần

Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi…”

Cứ 5h30 sáng, mặt trời vừa rạng, bài hát Dậy mà đi qua những chiếc loa phát thanh vang khắp ngôi trường. Lũ trẻ ùa ra từ các hành lang, ngay ngắn xếp hàng tập thể dục, sau đó tự động chia nhau cầm chổi, cuốc, bình tưới cây… đi làm vườn hoặc dọn dẹp. Ai cũng có nhiệm vụ của mình. Ngôi trường rộng hơn 6.500 m2, hoàn toàn do những đứa trẻ tự chia nhau chăm sóc: nhóm lau bàn ghế, nhóm dọn hành lang, nhóm quét sân trường…

Sau giờ học chính khoá, chúng lại bận rộn với hoạt động của các CLB: âm nhạc, vẽ tranh, làm xà bông, pickleball, cầu lông…. Hơn 40 CLB được thành lập trong 5 năm qua, với tất cả thể loại hoạt động mà thầy cô có thể nghĩ ra trên đời, để các con “tự tìm ra cái xuất sắc của riêng mình”.

Dần dần, những hoạt động này đã trở thành “nếp nhà” của HOPE School.

“Các bạn ấy không có thời gian rảnh rỗi, luôn có việc để làm, có bạn để chơi, có nhiều thứ để trải nghiệm”, ông Quyền nói. Tụi nhỏ được hướng dẫn để tự phục vụ, tự lo cho mình, học tập và trưởng thành. Lứa sau nâng đỡ lứa trước.

Mất 3 năm, khách đến chơi mới có thể thấy những đôi dép được xếp ngay ngắn trước cửa các phòng. Cũng mất từng ấy thời gian để không gian trường im phăng phắc khi tiếng kẻng báo đến giờ đi ngủ vang lên.

Hầu như tháng nào, trường cũng đón khách đến thăm nhà. Ông Quyền giữ một nguyên tắc: khách đến chơi hãy kể một câu chuyện về bài học trong đời, hoặc những khó khăn trong sự nghiệp… cho các học sinh của HOPE.

“Trường không bao giờ nhận tiền. Cho tiền là dễ nhất. Những câu chuyện mới trở thành vốn liếng để chúng bắt đầu tự nuôi ước mơ của riêng mình”, ông lý giải.

Ông Quyền gọi đây là phương pháp “nhồi cọc” – làm móng thật sâu và chắc để tạo nền cho toàn bộ “công trình” ở trên. Những trải nghiệm dần dần sẽ xây dựng cho các con sự tự tin, từng bước trở thành đứa trẻ cứng cáp khi ra đời.

Sau hai tháng vào trường, Thanh Trọng dần quen với “nếp nhà” – tự thức dậy, gấp chăn, tập thể dục, làm vườn, dọn dẹp, tham gia các câu lạc bộ… Những người bạn chung hoàn cảnh vẫn vượt qua nỗi buồn và bước tiếp đã trở thành nguồn cảm hứng cho cậu bé.

“Nếu cứ co ro như thế thì mình sẽ sống tách biệt. Không được. Phải cởi mở, giao tiếp và nói chuyện hơn”, Trọng kể.

Trọng được giao làm trung đội trưởng – vị trí “anh cả” trong nhà chung, có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn các em trong đội đi vào nề nếp. Cậu dần trở thành hoạt náo viên, tích cực tham gia và điều phối nhiều hoạt động trong trường.

“Không có công thức chung để tạo nên đứa trẻ hạnh phúc, nhưng tình yêu thương có thể là liều thuốc chữa lành mọi nỗi đau”, ông Quyền đúc kết khi nhìn lại hành trình 5 năm. Lần tái khám năm nay, trong gần 200 đứa trẻ của Hy Vọng, tỷ lệ gặp vấn đề tâm lý chỉ còn 2%.

Nhưng “liều thuốc” này không hiệu nghiệm với mọi đứa trẻ. Có em sau hai năm ở trường, mãi không thích nghi được với lối sống tập thể, chọn trở về nhà. Có em học mãi vẫn cứ ở lớp 1, chọn chia tay trường để trở về với cảnh núi rừng – nơi em thấy thuộc về nhất.

“Quan trọng là đừng để đứa trẻ cảm thấy cô đơn dù ở bất kỳ đâu”, ông nói.

Nhưng chấn thương tâm lý không phải vấn đề duy nhất của những đứa trẻ mồ côi. Gánh nặng tiền bạc đôi khi vô tình dứt các em khỏi giấc mơ được sống theo ý mình.

Cuộc giải cứu “tương lai”

Tháng 8/2026, khi các bạn nhập học trở lại sau hai tháng nghỉ hè, Kpa H’Trương (15 tuổi, Đăk Lăk) quyết định không lên chuyến tàu trở lại trường Hy Vọng.

“Bố con đi không được, con phải ở nhà chăm sóc”, cô bé báo tin với thầy quản nhiệm.

Em buồn, nhưng nỗi buồn không bằng tình thương người cha bệnh ngày một nặng. Nửa năm qua, cha em đau cột sống, gặp khó khăn trong di chuyển và gần như không thể làm việc.

Nhà vốn có 5 người, nhưng anh trai cả mất sớm, còn mẹ qua đời 5 năm trước do Covid. H’Trương không muốn mất thêm cả cha.

Anh trai thứ hai của em – Y Đương – vừa kết thúc lớp 12 và rời Trường Hy vọng sau lễ trưởng thành hồi tháng 6. Đương về quê học sửa máy cày. Xưởng sửa chữa cách nhà gần 2 giờ chạy xe máy, em chỉ có thể về thăm cha vào cuối tuần.

Suốt mùa hè, em nhận làm nhiều việc kiếm tiền. Đầu tiên là chặt mía thuê giá 2.000 đồng mỗi bó, mỗi ngày chặt 200 bó kiếm được 400.000 đồng. Nhưng làm được đến ngày thứ ba, chính em cũng đổ bệnh vì công việc nặng nhọc. Khi cơ thể phục hồi, em lại nhận đi cắt cỏ thuê. Cả mùa hè, H’Trương kiếm được khoảng 2 triệu đồng, chắt chiu lắm cũng cáng đáng được tiền ăn uống hàng ngày cho hai cha con.

“Nếu H’Trương không chịu quay lại học thì sao?”, ông Quyền bàn với hai cô giáo trên chuyến xe từ Đà Nẵng về Đăk Lăk thăm nhà H’Trương. Trong hành trình 500 km, chủ đề chính là làm sao đưa cô học trò trở lại trường.

“Nỗi lo của Trương là không ai chăm bố, là không có tiền. Đó là sự bất lực tình thương ghê gớm”, ông nói.

Nếu lại bỏ học, ở nhà, H’Trương sẽ như những cô bạn Êđê cưới chồng năm 15 tuổi. Nỗi bất lực của cái nghèo và thiếu tri thức sẽ thành vòng xoáy kéo dài mãi, thế hệ này sang thế hệ khác, không thoát ra được. Ông muốn “cứu” học trò.

Sau 5 tiếng di chuyển, đoàn gồm ba thầy cô trường HOPE cùng một cán bộ Hội phụ nữ xã đến nhà H’Trương.

Trong căn nhà gỗ lụp xụp với chỉ một chiếc giường đủ cho cha nằm, H’Trương đón các thầy cô với vẻ rụt rè và lo lắng. Sau khi hỏi thăm sức khỏe người cha và chào hỏi chú dì, ông Quyền đề cập đến việc đi học của cô học trò.

“Con học đến lớp 11 rồi. Còn một ít thời gian nữa là có thể lên cao đẳng, đại học, có tương lai hơn ở nhà cưới chồng”, ông nói.

H’Trương nhìn chú, dì, rồi lại cúi gằm mặt xuống. Em không nói gì, cứ khóc mãi.

Xung quanh, mọi người xúm lại góp lời, mỗi người một ý. Người ủng hộ cô bé đến trường, bên lại khuyên em nên dành thời gian bên cha. Giữa hỗn loạn quan điểm, cô gái nhỏ cúi gằm mặt, hai tay nắm chặt, nước mắt lã chã, không nói được gì.

Được một lúc, ông Quyền cùng cô giáo dắt H’Trương ra ngoài đi dạo.

“Tôi muốn tách em ra để em tự suy nghĩ”, ông giải thích.

Ra khỏi nhà, H’Trương dần thả lỏng. Em ngưng khóc, mặt vẫn cúi gằm, lặng lẽ đi dạo bên thầy cô. Sau khoảng lặng để em tĩnh tâm, ông Quyền gập nửa người, nhìn vào mắt cô học trò nhỏ: “Thầy sẽ cho Y Đương xe máy để thường xuyên về nhà. Nghĩa vụ chăm sóc cha, con có thể chia sẻ với anh trai”.

Ông thuyết phục thêm, Hội Phụ nữ cũng hứa đưa cha đi bệnh viện khám và thường xuyên theo dõi sức khoẻ. Về trường, thầy cô sẽ cho cách ngày gọi điện về nhà, thay vì chỉ mỗi tuần một lần như quy định.

“Con đi học với thầy nha”, ông nói, vẫn nhìn vào mắt cô bé, chờ đợi.

Cuối cùng, cô học trò gật đầu.

“H’Trương đồng ý đi học rồi”, thầy Quyền thông báo khi quay trở lại căn nhà gỗ. Trong khi, cô học trò đi vào phòng sắp xếp đồ đạc, quần áo, cùng thầy cô về trường. Không ai phản đối nữa.

“Sự khốc liệt của đại dịch đã đặt lên vai những đứa trẻ trách nhiệm của người lớn”, ông Quyền trầm tư.

Ông không muốn học trò đánh đổi tình yêu thương cha mẹ với quyền được học tập và có tương lai tốt hơn. Với những đứa trẻ có hoàn cảnh như H’Trương, học tập là con đường tốt nhất để thoát cái nghèo bủa vây.

Chuyến tuyển sinh những năm gần đây, ông Quyền và các thầy cô trường HOPE không còn bị nghi lừa đảo nữa. Nhưng họ nhận những lời nhờ vả khác: Chú có biết công ty, tổ chức này, hỏi giúp tôi sao một năm rồi họ không chuyển tiền.

“Trong lúc cao trào cảm xúc, ai cũng đổ vào. Cho tiền là cách dễ nhất. Nhưng không phải ai cũng kiên trì như đã hứa”, ông trầm ngâm. “Thế là tương lai của những đứa trẻ lại bị bỏ rơi sau lời hứa không tròn của người lớn”.

Đến giờ, ông Quyền, bà Thanh vẫn không có câu trả lời cho bài toán mà người ta tranh luận nhau 5 năm trước: đâu là nơi tốt hơn cho những đứa trẻ mồ côi – ở trường, hay ở nhà.

“Tương lai của những đứa trẻ sẽ là câu trả lời”, ông nói.

Nếu coi cuộc mạo hiểm 5 năm trước là một ván cược của những người sáng lập, nhìn vào sự trưởng thành của học trò đến giờ, ông tin mình đã thắng.

20h một tối mùa hè tháng 8, thư viện của HOPE vẫn sáng đèn. Tụi nhỏ lăn lê bò toài trong căn phòng đầy sách – đứa đọc, đứa học bài, đứa ngủ, đứa chơi… Thư viện là căn phòng duy nhất trong trường mở điều hoà cả ngày đêm, thu hút tụi nhỏ mọi lúc. Chúng không biết đây là “chiêu thức” của các thầy cô để “lừa” tụi nhỏ đắm chìm vào không gian của sách.

“A, anh Trọng về”, đám trẻ hăm hở chạy lại, vây quanh khi thấy Thanh Trọng bước vào thư viện trong chiếc áo sơ mi, quần tây. “Đẹp trai dữ ta”, tụi nhỏ tíu tít khen.

Giờ Thanh Trọng đã là cậu sinh viên y khoa Đại học Phan Châu Trinh, trở thành “thần tượng” của lứa đàn em ở HOPE School. Gần hai tháng tụi nhỏ chưa gặp “anh cả”. Lần cuối là ở buổi Lễ Trưởng thành hồi tháng 6 – khi Trọng về dự buổi chia tay 35 em tốt nghiệp lớp 12, tiến vào cánh cổng đại học giống như mình.

Sau 5 năm, 18% trong 363 học sinh của HOPE đã bước vào ngưỡng cửa đại học, cao đẳng. Nhiều em chọn học ngành y như Trọng, vì có học bổng, một số chọn theo các trường quân đội, học nghề, hoặc về nhà tìm con đường khác.

Những ngày đầu rời trường, bắt đầu cuộc sống sinh viên, Trọng có đôi chút sợ hãi. Cậu tự gọi mình như “con nhộng chuẩn bị phá kén”, yếu đuối khi phải tự lập sau một thời gian dài quen được bao bọc. Hồi năm nhất, Trọng thường xuyên về “nhà” cùng ngủ, cùng chơi với các em. Cậu muốn cùng các em nuôi ước mơ vào đại học giống như mình.

“Với em, Hope là ga tàu đầu tiên, là bệ phóng đạt được mục tiêu mà em muốn”, Trọng nói.

Ở nơi đây, em đã quyết định lên tàu, đi một hành trình để vượt qua giai đoạn tăm tối sau ngày mẹ mất và tìm thấy tương lai của mình.

Nội dung: Mỹ Hà – Phùng Tiên – Thu HằngẢnh: Phùng Tiên, HOPE School

*Việc sử dụng hình ảnh, câu chuyện trong bài đã được sự đồng ý của các em và gia đình.

Bài 2: Trưởng thành vắng bóng mẹ cha

NGUỒN THAM KHẢO

Thông tin tham khảo từ Vnexpress.net

S8SPORT.NET tổng hợp và biên tập nội dung dựa trên nguồn công khai nhằm mang đến thông tin đầy đủ, thuận tiện cho bạn đọc.

Xem bài viết gốc

Bình luận cộng đồng

0

Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến về bài viết này.

Tham gia thảo luậnChia sẻ ý kiến văn minh và tôn trọng cộng đồng.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không hiển thị công khai.