TIN NÓNG
SPORTLIGHT

Xe buýt đến metro chậm hơn xe máy bao nhiêu lần?

Xe buýt đến metro chậm hơn xe máy bao nhiêu lần?

Trong phạm vi dưới 60 phút di chuyển, hành trình đi xe buýt đến bất kỳ ga Metro số 1 nào cũng chậm hơn xe máy, với thời gian trung bình gấp đôi.

Hãy chọn điểm xuất phát, ga đến và giờ xuất phát để so sánh hành trình di chuyển đến metro bằng xe buýt so với xe máy của chính bạn.

Không định vị được — hãy nhập phường

Từ vị trí bạn chọn đến ga

  • (1) Hành trình giao thông công cộng có thể bao gồm: đi bộ, xe buýt, metro.
  • (2) Thời gian di chuyển bằng xe máy trung bình trong ngày.

Suốt nhiều năm, TP HCM đối mặt với sự bùng nổ phương tiện cá nhân. Tính đến tháng 3/2026, thành phố có gần 13 triệu phương tiện, gồm hơn 1,48 triệu ôtô và 11,5 triệu xe máy. Số lượng ngày càng tăng qua các năm. Trong khi, hệ thống bến bãi và bãi đỗ xe chỉ đáp ứng được 7% – 10% nhu cầu thực tế của người dân.

Để hạn chế xe cá nhân, giải pháp tối ưu nhất là thúc đẩy người dân lựa chọn phương tiện công cộng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đây chưa phải ưu tiên của người dân.

Năm 2025, tỷ lệ người đi xe buýt chỉ đạt 1,6%, thua xa mục tiêu 7,23%. Một trong những nguyên nhân là thời gian di chuyển bằng xe buýt vẫn chậm hơn xe cá nhân ở đa số khung giờ.

Để so sánh tỷ lệ chênh lệch giữa hai loại hình này, VnExpress mô phỏng thời gian di chuyển bằng xe buýt đến Metro số 1 từ mọi điểm trên địa bàn TP HCM trong tối đa 60 phút, sau đó so sánh với thời gian đi xe máy trên hành trình tương tự.

Dữ liệu cho thấy, ngay tại thời điểm vùng phục vụ của ga Bến Thành – nhà ga dễ tiếp cận nhất bằng xe buýt – đạt cực đại trong ngày (14h45), 62% diện tích vẫn có thời gian di chuyển bằng xe buýt đến ga chậm hơn xe máy ít nhất hai lần, trong khi 38% diện tích chậm hơn 1-2 lần. Không có khu vực nào xe buýt có thời gian di chuyển nhanh hơn hoặc ngang bằng xe máy.

Trong phạm vi các hành trình tiếp cận được Metro số 1 bằng xe buýt trong vòng 60 phút, thời gian di chuyển bằng xe buýt chậm hơn trung bình 2 lần so với xe máy.

Thời gian di chuyển giữa hai phương tiện chênh lệch ít nhất vào khung giờ cao điểm sáng (6-8h) và chiều (16-18h). Nguyên nhân là mạng lưới xe buýt vận hành với tần suất chuyến cao hơn, giúp người dân có nhiều lựa chọn kết nối hơn.

Ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP HCM, cho rằng TP HCM vẫn vận hành như một “đô thị xe máy” – nơi phương tiện cá nhân chiếm ưu thế gần như tuyệt đối. Ông dẫn chứng, mật độ xe máy tại TP HCM hiện vào khoảng 800 xe trên 1.000 dân, gần như mỗi người một xe. Bên cạnh đó, ôtô cá nhân cũng đang gia tăng nhanh, với khoảng 100 xe trên 1.000 dân. Trong khi, tỷ lệ vận tải công cộng chỉ dừng ở mức 2%.

PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn (Đại học Quốc gia TP HCM) phân tích, một trong những nguyên nhân chính là ùn tắc khiến xe buýt khó đảm bảo thời gian hành trình. Mạng lưới xe buýt dù mở rộng nhưng chủ yếu bám các trục chính, chưa đi sâu vào đường nhỏ, hẻm và khu dân cư mới. Tại khu trung tâm, bán kính đi bộ đến điểm đón gần nhất khoảng 100-300 m, nhưng nhiều nơi từ các hẻm có thể hơn một km, ở ngoại thành độ phủ còn hạn chế hơn.

Với khoảng cách này, người dân có thể mất 15-30 phút đi bộ ra trạm. Nếu gặp ùn tắc, tổng hành trình có thể kéo dài 1-2 giờ. Trong khi đó, đi xe máy thường chỉ mất khoảng một nửa thời gian và linh hoạt hơn, khiến xe buýt khó cạnh tranh.

Dữ liệu về sự chênh lệch thời gian di chuyển đến từng nhà ga trên tuyến Metro số 1 bằng xe buýt và xe máy cũng cho thấy thực tế này.

Xe buýt đến metro chậm hơn xe máy bao nhiêu lần?

Thời gian chênh lệch giữa di chuyển bằng xe buýt so với xe máy khác nhau ở từng nhà ga. Vùng xanh trên bản đồ càng lớn, cho thấy mức độ chênh lệch này càng nhỏ, tức việc di chuyển bằng xe máy hay xe buýt không có nhiều khác biệt. Ngược lại, vùng vàng và vùng cam càng rộng, cho thấy di chuyển bằng xe buýt chậm hơn nhiều so với xe máy.

So sánh 14 nhà ga metro, Bến Thành là nơi có mức chênh lệch lớn nhất giữa di chuyển bằng xe buýt và xe máy. Trong bán kính 60 phút đến nhà ga, gần một nửa diện tích (49%) có thời gian đi bằng xe buýt chậm hơn xe máy ít nhất hai lần.

Tương tự, Nhà hát Thành phố và Ba Son cũng có gần một nửa vùng phục vụ mà xe buýt gấp đôi thời gian di chuyển so với xe máy. Ba ga trung tâm đều nằm trong nhóm có tỷ lệ diện tích kém cạnh tranh cao nhất toàn tuyến.

Tính trung bình thời gian di chuyển ở cả 4 ngưỡng – từ 15 đến 60 phút – không nhà ga nào có thời gian di chuyển bằng xe buýt ngang bằng xe máy. Khoảng cách này giãn rộng nhất ở các ga trung tâm – Bến Thành, Nhà hát Thành phố – và thu hẹp nhất ở các ga vùng ven như Đại học Quốc Gia hay Rạch Chiếc.

Để giải quyết tình trạng ùn tắc và mất cân bằng hạ tầng, TP HCM đã đặt ra lộ trình rõ ràng cùng các giải pháp mang tính chiến lược nhằm hạn chế phương tiện cá nhân, chuyển dịch sang mạng lưới giao thông công cộng xanh và đa phương thức.

Theo Quy hoạch tổng thể TP HCM tầm nhìn 100 năm đang được lấy ý kiến, thành phố không chỉ hạn chế xe cá nhân bằng các biện pháp hành chính cơ học, mà chuyển dịch tư duy quy hoạch từ chú trọng “tốc độ di chuyển” sang tập trung nâng cao “tính tiếp cận”. Mục tiêu hướng tới thiết lập mô hình đô thị 20 – 60 phút, đảm bảo cư dân tiếp cận mọi tiện ích, dịch vụ thiết yếu một cách nhanh chóng bằng giao thông công cộng.

Tuy nhiên, để đạt mục tiêu này, bài toán cần giải là làm sao tăng hiệu quả kết nối của mạng lưới giao thông công cộng hiện nay.

Yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định của bạn trong lựa chọn phương tiện công cộng để di chuyển hàng ngày?

Bài 3: Từ kết nối giao thông công cộng đến đô thị nén dọc metro

Nội dung và Dữ liệu: An Ninh

Đồ họa: An Ninh – Thanh Hạ

Về dữ liệu và phương pháp

Các phân tích trong bài dựa trên phương pháp phát triển từ nghiên cứu “Integration matters: Evidence from public transport accessibility to Ho Chi Minh City’s Metro Line 1” của Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright.

Dữ liệu được tổng hợp từ Trung tâm Quản lý Giao thông công cộng TP HCM và OpenStreetMap. Phân tích sử dụng mạng lưới giao thông công cộng trên địa bàn TP HCM sau sáp nhập, cập nhật đến tháng 3/2026 – trước khi chính sách miễn phí vé có hiệu lực (từ 1/7/2026). Các tuyến xe buýt du lịch và buýt sông không được đưa vào phân tích.

Thành phố được chia thành các ô lục giác H3 (cấp độ 9) để tính toán. Diện tích được quy đổi theo diện tích trung bình toàn cầu của một ô H3 cấp độ 9 (0,105 km²/ô). Thời gian tiếp cận được tính bằng cách mô phỏng mọi hành trình có thể có bằng giao thông công cộng: đi bộ, chờ xe buýt, thời gian trên xe, trung chuyển giữa các tuyến (nếu có), đi bộ đến nhà ga, và chờ tàu.

Giới hạn: Dữ liệu mô phỏng đo khả năng tiếp cận – tức thời gian một người có thể đi đến nhà ga trên hành trình nhanh nhất – không đo lượng khách thực tế hay hành vi đi lại. Bài viết chỉ đo lường khả năng tiếp cận đến Metro số 1, không đo toàn bộ mạng lưới xe buýt.

Thời gian di chuyển bằng xe máy được ước tính từ dữ liệu mạng lưới đường bộ thực tế và không tích hợp dữ liệu giao thông theo thời gian thực. Vì vậy, thời gian di chuyển giữa hai điểm được giả định là như nhau ở mọi thời điểm trong ngày, chưa phản ánh ảnh hưởng của ùn tắc giao thông, đặc biệt trong giờ cao điểm.

NGUỒN BÀI VIẾT

Nguồn bài viết: Vnexpress.net

Nội dung được trích dẫn và tham khảo từ Vnexpress.net.

Xem bài viết gốc tại Vnexpress.net

Bình luận cộng đồng

0

Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến về bài viết này.

Tham gia thảo luậnChia sẻ ý kiến văn minh và tôn trọng cộng đồng.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không hiển thị công khai.