TIN NÓNG
SPORTLIGHT

Nửa đời tìm mẹ của những đứa trẻ Babylift

Năm 1977, Huyền Friedlander lên 6 và có một tuổi thơ êm ấm bên cha mẹ nuôi tại Sacramento, California, Mỹ. Một ngày, bố nuôi lần đầu tiên đọc cho cô bé nghe “bản khai” về nguồn gốc của con gái.

Tên của đứa trẻ: Lê Thị Huyền, nữ, Việt Nam.

Bà Lê Thị Đềm, người mẹ đơn thân của đứa trẻ, đã đến vào tuần thứ ba của tháng 4/1975 để thảo luận về việc giao con gái mình cho FCVN làm con nuôi. Bà cho biết đã cố gắng gặp tôi nhiều lần nhưng không thể vào được bên trong khu phức hợp vì quá đông. Bà Đềm hiện thất nghiệp và gặp rất nhiều khó khăn để tìm việc làm cũng như nhiều vấn đề do con gái mình mang dòng máu lai. Bà cảm thấy cô bé sẽ không được chấp nhận ở Việt Nam và sẽ tốt hơn nếu ở Mỹ. Bà hỏi rất nhiều câu và nhiều lần khẳng định rằng mình đã “quyết định rồi”. Rõ ràng là bà rất buồn, nhưng dường như đã suy nghĩ rất kỹ về vấn đề này”.

Cô bé vẫn còn ký ức về lần cuối gặp mẹ hai năm trước đó. Bà chở em sau xe đạp từ Biên Hòa đến cô nhi viện của FCVN tại Sài Gòn, gặp một phụ nữ tóc vàng – Cherie Clark.

Sau cánh cổng kim loại lớn là khoảng sân rộng với những món đồ chơi nhựa Fisher Price của Mỹ mà đứa trẻ nghèo chưa từng thấy. Mẹ để Huyền chơi một mình ngoài sân. Khi quay trở ra với một phụ nữ khác, bà dặn: “Con ngồi đây, mẹ đi mua bánh. Mẹ sẽ quay lại đón con”.

Nghe tiếng huýt sáo và thấy những đứa trẻ đang xếp hàng trước một nữ tu, Huyền khóc và hỏi soeur: “Sao mẹ chưa đến đón?”. Bà ôm vai em, nói: “Ta có một chỗ cho con”.

Kể từ đó, cô bé không còn thấy mẹ.

Cũng từ đó, trong lòng em luôn lửng lơ câu hỏi: “Nếu như mẹ không thương mình, hay mình không hề quan trọng thì sao?”

Devaki đến Mỹ trước Huyền 24 ngày, khi mới 9 tháng tuổi. Bà đã không hề có ký ức nào về gia đình ruột của mình.

Được nhận nuôi bởi một cặp vợ chồng “tuyệt vời và đáng mến” ở quần đảo Hawaii, Devaki trở thành con một và lớn lên “không thiếu thốn thứ gì”.

Hawaii là một thiên đường cởi mở và đầy dung chứa. Nơi có nhiều người lai, người Nhật, người Trung Quốc, rất nhiều người Philippines. Nhờ đó, Devaki chưa từng trải qua sự kỳ thị. Trong khi, bà biết rất nhiều con nuôi là người châu Á duy nhất giữa hàng trăm dặm vuông toàn những gia đình da trắng. Họ luôn không hiểu tại sao mình không được chấp nhận ở trường.

Được bao bọc trong cộng đồng người Mỹ gốc Á đảo Thái Bình Dương đa dạng, không có người Việt, Devaki đậm đặc “chất Mỹ”. Bà chưa bao giờ cảm thấy cần tìm kiếm gia đình ruột thịt cho đến năm 28 tuổi, khi chuyển đến California và sống ở Little Saigon.

Bà nhận ra mình thiếu một thứ gì như là “cội rễ”.

Dù không tìm quá khứ, nó tự tìm đến Devaki.

Lần trò chuyện với một người bạn khác, anh bỗng hỏi: “Liệu ai đó đang tìm kiếm bạn ngoài kia thì sao?”

Khoảnh khắc ấy, điều gì đó thực sự lay động bên trong.

Năm 2005, Devaki quyết định về Việt Nam lần đầu, tìm kiếm những mảnh ghép xuyên đại dương về lịch sử và gốc rễ của bản thân, dù có thể câu hỏi mãi mãi không lời đáp.

May bay

Cuộc vận chuyển vội vàng

Mat troi

Tháng 4/1975, nội bộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa rối loạn. Quân Giải phóng đang tiến về Sài Gòn. Nhiều người Mỹ tìm cách rời đi. Căng thẳng lên đến đỉnh điểm.

Trong bối cảnh hỗn loạn, Chính phủ Mỹ đã công bố một kế hoạch bất thường nhằm đưa hàng nghìn trẻ em Việt Nam khỏi đất nước. Tại cuộc họp báo ở San Diego, California ngày 3/4/1975, Tổng thống Mỹ Gerald R. Ford tuyên bố

Chiến dịch này được biết đến với tên gọi Operation Babylift (gọi tắt là Babylift).

Tuyên bố khởi động Chiến dịch Babylift của Tổng thống Mỹ Gerald R. Ford ngày 3/4/1975.

Tôi đã gửi 7 máy bay C5A và các máy bay khác được trang bị đặc biệt để chăm sóc những trẻ mồ côi. Tôi dự kiến ​​các chuyến bay sẽ bắt đầu trong vòng 36 đến 48 giờ tới. Những trẻ mồ côi này sẽ được đưa đến căn cứ không quân Travis và các căn cứ khác trên Bờ Tây. 2.000 trẻ này đều đang trong quá trình được các gia đình Mỹ nhận nuôi”.

Document Page 3
Document Page 2
Document Page 1

Sau tuyên bố mở màn, khoảng 16h30 ngày 4/4/1975, chiếc máy bay vận tải quân sự C5A Galaxy mang số hiệu 68-0218 cất cánh khỏi đường băng Tân Sơn Nhất, chở hơn 300 người, trong đó có 228 trẻ nhỏ.

12 phút sau khi lên khỏi mặt đất, chiếc C5A bị giật mạnh trong không trung, các sợi cáp đứt tung khiến cửa khoang hành lý bung ra, hút hết oxy khỏi khoang hành khách. Phi hành đoàn quay đầu chiếc cơ vận trong nỗ lực tuyệt vọng, nhưng nó đã rơi xuống đồng lúa, chỉ cách đường băng vài dặm.

Sau khi trượt một phần tư dặm, nó nảy qua sông Sài Gòn, vỡ thành nhiều mảnh và bốc cháy. Toàn bộ giấy tờ, vật dụng đã bị ngọn lửa thiêu đốt. Nhiều người ở tầng dưới của máy bay đã không sống sót.

Thảm họa cướp đi sinh mạng của 78 trẻ em (có tài liệu nói 76 hay 79) và các nhân viên y tế, tình nguyện viên, y tá, phi hành đoàn và quân nhân Mỹ.

Devaki nằm trong số 150 trẻ sống sót được đưa về cô nhi viện New Heaven ở quận 3 để chăm sóc. Dù vụ tai nạn gây chấn động thế giới, Nhà Trắng vẫn quyết tiến hành chiến dịch.

Các nữ tu và y tá sau đó đã chuyển những đứa trẻ lên chiếc Boeing 747 được thuê của hãng Pan American World Airways.

Thống trị trên trang nhất báo chí phương Tây ngày 5 và 6/4 là hình ảnh Tổng thống Gerald R. Ford bế đứa trẻ đầu tiên trong 325 đứa trẻ được chở đến Presidio, San Francisco vào 21h35.

Chuyến di tản cuối cùng diễn ra ngày 26/4/1975, khi 5 cánh quân của Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu tiến về hướng Sài Gòn. Chiếc máy bay vận tải quân sự C-141 chở 184 đứa trẻ và 14 người chăm sóc rời mặt đất từ Tân Sơn Nhất.

Huyền Friedlander là đứa trẻ cuối cùng trong danh sách trẻ em của đợt không vận với mã số 184.

Máy bay dừng lại ở căn cứ không quân Clark, Philippines, sau đó đến một căn cứ gần Los Angeles rồi đáp xuống Colorado ngày 29/4. Ở đây, Huyền bắt đầu một cuộc đời mới.

Slide 1
Slide 2
Slide 3
Slide 4

Cô bé được chăm sóc tại bệnh viện 5 tuần trước khi trao cho cha mẹ nuôi – ông bà Randy Wayne Murch và Sunday Ananda Murch từ Hawaii – vào ngày 4/6/1975.

Trong “Phiếu tóm tắt xuất viện và Giấy phóng thích”, em vẫn chưa hết “Hội chứng trẻ mồ côi” với mụn nhọt, viêm kết mạc, chàm và ghẻ lở. Tai chảy dịch. Bụng chướng, nghi có giun và chỉ nặng 7,03 kg.

Mẹ nuôi bà nhớ lại khoảnh khắc bà đón con gái ở Presidio: “Họ đặt đứa nhỏ vào tay tôi. Con bé vòng tay ôm lấy cổ tôi. Nó không buông ra. ‘Mẹ sẽ chăm sóc con suốt phần đời còn lại’”, bà Sunday Ananda Murch nói.

Nhà Randy Murch đặt cho cô bé cái tên Devaki Murch để bắt đầu một cuộc đời mới.

Binh sua
Doi giay

Tháng 4 năm 1996, Huyền Friedlander về Sài Gòn với tờ giấy khai sinh Lê Thị Huyền mà bố nuôi bà đã “đánh cắp” hơn 20 năm trước.

Huyền khi ấy 24 tuổi với trái tim tan vỡ vì người bạn trai 7 năm yêu rồi chia tay nhiều lần, lại một lần nữa bỏ rơi bà. Nỗi ám ảnh bị bỏ rơi đeo bám bà suốt tuổi trẻ.

Cặp đôi đã thiết lập một mẫu quan hệ: chia tay, lý tưởng hóa lẫn nhau, cảm thấy suy sụp và rồi quay lại với nhau lần nữa. Bà không thể thoát khỏi vòng lặp bị từ chối hết lần này đến lần khác vì quá hy vọng người kia sẽ thấy được giá trị của mình, và cả hai sẽ hạnh phúc mãi mãi. Huyền nhận ra rằng mình đang tái hiện một kịch bản bỏ rơi thực chất là từ nỗi đau cảm thấy bị mẹ ruột khước từ.

Vì vậy, ngay khi Tổng thống Bill Clinton dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam năm 1994, Huyền đã có ý định về tìm mẹ ruột. Cô gái trẻ dành một năm làm việc để tiết kiệm tiền cho chuyến đi.

Theo quy định, cha mẹ Mỹ nhận con nuôi từ chiến dịch Babylift chỉ có thể xem giấy tờ gốc của trẻ trước khi tiến hành thủ tục nhận nuôi. Người cha sáng suốt của bà đã khéo léo lấy một bản sao giấy khai sinh gốc từ nhân viên cộng đồng. Nhờ đó, hành trình tìm mẹ của Huyền trở nên dễ dàng hơn so với hàng nghìn đứa trẻ Babylift khác.

Bà đi cùng dì của mình. Ngày thứ hai ở Sài Gòn, họ tìm đến nơi trước kia là một cô nhi viện. Người đàn ông tên Triết, nói được một chút tiếng Anh, mở cửa. Khi biết bà đang tìm mẹ, ông không ngần ngại cùng thuê một chiếc ôtô đi Biên Hoà (Đồng Nai) để tìm kiếm manh mối.

Sau khi đi 5 đồn công an khu vực mà không thu thập được gì, bà tìm thấy hy vọng ở điểm thứ 6. Cán bộ sau khi kiểm tra đã nói tên một bệnh viện và hai nhà thờ: “Tôi nghĩ đó là nơi cô sinh ra. Hãy đến nhà thờ, có thể cha xứ biết gia đình cô”.

Huyền vẫn còn chút ký ức về nơi mình sinh ra – Hố Nai, Biên Hoà. Hồi nhỏ, mẹ thường đưa bà đi lễ nhà thờ mỗi Chủ Nhật, tại giáo xứ Hà Nội.

Tại nhà thờ thứ hai, linh mục xem giấy khai sinh và nói rằng, ông biết người chứng kiến lúc bà ra đời. Vài phút sau, một người đàn ông đi đến, kể rằng con gái ông đỡ đẻ khi bà được sinh tại bệnh viện.

Cha xứ hỏi tên cha mẹ Huyền, rồi nhờ người đi kiếm. Khoảng 20 phút sau, một phụ nữ và người đàn ông lớn tuổi gầy gò với mái tóc đen đến. Họ đều đang khóc. Tay người phụ nữ cầm một bức ảnh đã sờn rách và không rõ hình, bức ảnh đứa trẻ hai tuổi mà bà đã giữ suốt 20 năm. Hoá ra, họ là dì và ông ngoại của Huyền. Họ nói mẹ bà đang ở nơi khác, và hẹn ngày mốt quay lại để gặp mặt.

Năm 1954, gia đình bà Lê Thị Đềm (hiện 76 tuổi) di cư từ miền Bắc vào Hố Nai. Năm 1970, 19 tuổi, bà đi làm cho trại lính Mỹ đóng ở Biên Hòa. Làm trong nhà bếp, bà được một người lính phụ trách rađa địa bàn Long Bình và Phú Lâm giúp đỡ.

Họ yêu nhau. Bà có thai. Ông xin làm giấy tờ kết hôn để đưa bà về Mỹ, nhưng không được. Hết thời hạn một năm tại Việt Nam, ông phải về Mỹ. Bà ở lại, mang bầu và sinh con một mình.

Nhà nghèo. Cha mẹ đan cót nuôi một bầy con. Xung quanh, nhiều người gièm pha “thứ gì đâu cặp Mỹ”.

Năm 1971, bà sinh con ở Nhà thương Biên Hòa lớn. Đứa bé được 3,2 kg. Nhìn thấy con, người mẹ vừa vui, vừa sợ khi nghĩ tới lúc mang con về nhà trước những ánh mắt coi thường.

Thời ấy, nhiều người có con với Mỹ phá thai hoặc sinh xong đem cho cô nhi viện. Bố bà bảo, đem cô nhi viện cho nó đi là xong. Bà khóc: “Con xin thầy. Thầy thương con như nào thầy để con thương nó như vậy, chứ con không thể cho em đi. Nếu nó chết thì con chết, nó sống thì con sống. Họ nói vài bữa họ cũng quên”.

Hết ở cữ, bà để con ở nhà cho em gái giữ. Ai thuê gì làm nấy để có tiền nuôi con.

Những ngày gần 30/4/1975, khắp miền Nam “um sùm, hỗn loạn”. Liên tiếp nhiều chuyến bay đưa người Mỹ rời Việt Nam.

Nhờ chút tiếng Anh khi phục vụ ở trại lính Mỹ, bà trình bày việc muốn đi Mỹ vì sợ ở lại nguy hiểm. Nhưng họ nói “chỉ em bé được đi thôi, người lớn phải ở lại”.

Bà bế con về. Nửa đường, bà lại sợ con bị hại, đành dứt ruột. Con đi thì mình mẹ khổ cũng được, để con lại nhỡ có chuyện gì tội nghiệp con. Bà chở Huyền quay lại. “Cô đầm” tóc vàng hỏi đi hỏi lại, bà đã suy nghĩ kỹ chưa và cần gì nữa không.

Người phụ nữ tóc vàng viết giấy tờ xong, bà Đềm bảo con: “Con ngồi đây, mẹ đi mua bánh cho con”.

Huyền Friedlander đoàn tụ với mẹ – bà Đềm – năm 1996, tại Đồng Nai.

Sáng ngày 14/4/1996, vừa nhìn thấy Huyền, bà Đềm biết ngay đây là con mình. Bà lao vào ôm: “Chào con. Trời ơi, đúng là con tôi rồi!”.

Sau những phút xúc động, câu đầu tiên Huyền hỏi: “Mẹ nói ngồi đây rồi mẹ mua bánh, tại sao mẹ đi luôn?”

Bà Đềm nổi da gà, chỉ biết khóc: “Mẹ xin lỗi vì mẹ gạt con. Mẹ phải nói dối chứ con lại đòi theo mẹ về”.

Bà kể, khi ra khỏi cổng trại trẻ, bà núp sau một gốc cây và nhìn con gái chơi một mình ở sân cho đến khi trời tối, đứa trẻ theo soeur vào nhà, bà mới về.

Trở về Biên Hòa với cha mẹ và 7 đứa em, bà Đềm gần như phát điên. Tối đó, bà ngất xỉu vì “đời mình từ nay không còn gì”. Những ngày sau, người ta hỏi con đâu, bà nói có người bảo lãnh nó đi rồi, đừng hỏi nữa.

Đầu tháng 5, bà mới nghe tin máy bay chở con nít đi nước ngoài bị rơi, chết nhiều lắm. Người mẹ nghĩ sẽ không bao giờ được thấy con nữa.

Sau chuyến đi Việt Nam đầu tiên và gặp mẹ, Huyền về Mỹ. Họ giữ liên lạc bằng thư tay, rồi sau này là điện thoại bàn.

Khi Huyền hỏi về cha ruột, bà Đềm chỉ biết tên ông phát âm giống như “màu xanh – bluan”, và thêm chi tiết ông từng làm việc ở trại Long Bình, 377 bộ binh, rađa.

Biết hồ sơ quân sự được lưu giữ ở St. Louis, Missouri, bà viết thư đề nghị được cung cấp tài liệu năm 1970, khi cha được bổ nhiệm vào Sư đoàn bộ binh 377.

Giữa thập kỷ 90, Internet xuất hiện và các diễn đàn phát triển. Huyền tìm kiếm các nhóm cựu binh từng phục vụ tại Việt Nam, đăng tin “tìm một người có tên nghe giống màu xanh, ở trại Long Bình và Phú Lâm năm 1970”.

Howard Heckman, một cựu binh chiến trường Việt Nam, đã trả lời. Rất nhiều lần trao đổi và nhiều tháng tìm kiếm, cuối cùng, ông Howard gửi cho bà một bản sao danh sách những cựu binh thời điểm đó.

Huyền dò theo từng cái tên và thấy “Paluzzi Jerry Gerard”. Như một thám tử, bà đã lần theo nhiều manh mối để tìm ra nơi ông sống ở New Jersey, biết được vợ đầu của ông mất và ông đã tái hôn. Nhưng bà đã không liên lạc với cha ruột – ông Paluzzi – suốt một năm.

Bà Huyền học cao học để trở thành một nhà tâm lý trị liệu, kết hôn, rồi sinh con.

Vụ khủng bố 11/9/2001 khiến gần 3.000 người thiệt mạng tại Mỹ đã thay đổi suy nghĩ của bà. Có điều gì đó đã thôi thúc người con liên lạc với cha. Huyền gọi ông vào tối thứ Sáu, và nhận được yêu cầu để lại lời nhắn qua hộp thư thoại.

Sáng hôm sau, ông Paluzzi gọi lại.

Huyền tự hỏi tại sao ông lại chấp nhận dễ dàng đứa con chưa từng gặp như vậy. Khi gặp nhau, bà mới hiểu, ông đã rất yêu mẹ mình. Ông kể, mẹ bà là mối tình đầu của ông. Khi biết bà có thai, ông đã gặp cha bà Đềm xin cưới, nhưng bị từ chối. Họ không muốn bà đi Mỹ. Phía quân đội Mỹ cũng không cho phép ông lấy một người Bắc Việt.

Ông đặt cho bà biệt danh “Bắc Kỳ”. Khi ông về Mỹ, qua một người bạn, họ viết thư cho nhau vài lần trong hai năm đầu đời của con gái nhỏ và hẹn ngày đoàn tụ. Người bạn đó sau này nói với ông rằng bà Đềm đã chết khi vượt biên đến Thái Lan, và con gái đã chết trong vụ máy bay Babylift rơi. Nhưng những năm sau đó, ông vẫn đăng tin trên các diễn đàn tìm kiếm một phụ nữ với biệt danh “Bắc Kỳ”.

Vài tuần sau cuộc gọi, Huyền đến bờ Đông nước Mỹ cùng cha nuôi, chồng và con trai 17 tháng tuổi. Huyền cũng đang mang thai con gái hai tháng. Vợ chồng ông Paluzzi đón họ tại nhà hàng với bó hoa. Sau bữa tối, họ về nhà ông ăn bánh cannoli.

Ông Paluzzi đem ra bức ảnh một cô bé khoảng hai tuổi, một bản sao hoàn hảo của bức ảnh cũ nát mà người dì ruột Huyền đã giữ ở Việt Nam. Vì vậy, cha con họ chưa bao giờ thấy cần xét nghiệm ADN. Ông tặng lại con gái cây thánh giá bằng vàng mà bà Đềm đã tặng ông lần cuối, khi rời Việt Nam.

Không hẹn, cả cha và mẹ ruột Huyền đều chờ nhau thêm 8 năm kể từ khi chia tay rồi mới đi bước nữa. Bà Đềm lấy một nhạc sĩ và sinh thêm 5 đứa con. Ông Paluzzi cũng có gia đình riêng với một trai một gái.

Trong thập kỷ tiếp theo, cha con thỉnh thoảng liên lạc qua thư hoặc điện thoại. Sau khi chồng mất vì ung thư, bà Huyền lại cảm thấy thôi thúc rằng các con cần được gặp ông ngoại ruột.

Khi gặp lại lần thứ hai, hai đứa con của bà đã thành niên. Đó cũng là lần cuối họ được gặp ông. Đại dịch Covid năm 2021 đã cướp đi người cha ruột của Huyền.

Đoàn tụ mang lại cảm giác thật kỳ lạ. Câu trả lời quan trọng nhất với Huyền là mẹ đã không bỏ rơi bà, và bà đã luôn được yêu thương ngay từ nhỏ. Sự thật ấy đảo lộn hoàn toàn câu chuyện đã phủ bóng lên suốt 24 năm đầu đời của bà.

Thế nhưng, trong hơn 3.300 đứa trẻ Babylift, không phải ai cũng may mắn như Huyền. Hơn 50 năm từ ngày xa Việt Nam, Devaki vẫn đang trong hành trình đi tìm lại một phần danh tính của mình.

Đồ hoạ: Tâm Thảo – Thanh Hạ

NGUỒN BÀI VIẾT

Nguồn bài viết: Vnexpress.net

Nội dung được trích dẫn và tham khảo từ Vnexpress.net.

Xem bài viết gốc tại Vnexpress.net

Bình luận cộng đồng

0

Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến về bài viết này.

Tham gia thảo luậnChia sẻ ý kiến văn minh và tôn trọng cộng đồng.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không hiển thị công khai.